Các trường hợp Thẩm phán trả hồ sơ khởi kiện

Theo quy định của pháp luật, trong trường hợp nào thì tòa án trả lại đơn khởi kiện, không tiến hành thụ lý hồ sơ khởi kiện?

MTĐT 16:24pm, 14/08/2019

Câu hỏi: Trong vụ án tranh chấp đất đai, khi mà tôi một bộ hồ sơ khởi kiện theo quy định thì thẩm phán, tòa án trả lại đơn khởi kiện, không tiến hành thụ lý hồ sơ khởi kiện của tôi khi nào, trong thời gian bao lâu thì tôi phải khắc phục, hoàn tất hồ sơ để nộp lại cho tòa đầy đủ, theo đúng quy định của pháp luật.

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho chuyên mục hỏi đáp Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về việc trả lại đơn khởi kiện và hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện. Theo đó, Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:

+/ Trường hợp thứ nhất, Người khởi kiện không phải là đối tượng có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật Tố tụng dân sự hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì năng lực hành vi tố tụng dân sự được hiểu là khả năng tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng. Đương sự trong vụ việc dân sự nếu chưa đủ 06 tuổi hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì được coi là không có năng lực hành vi tố tụng dân sự.

+/ Trường hợp thứ hai, Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó. Thí dụ, đối với các tranh chấp đất đai thì Luật Đất đai quy định phải thực hiện thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất đang xảy ra tranh chấp, trường hợp hòa giải không thành thì có quyền khởi kiện ra Tòa án để được giải quyết. Cũng xin lưu ý đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.

+/ Trường hợp thứ ba, Sự việc đã được giải quyết bằng Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại.

+/ Trường hợp thứ tư, Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự mà người khởi kiện không nộp Biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng.

Đây là trường hợp sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. Thẩm phán sẽ dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Và trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án Biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

+/ Trường hợp thứ năm, Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thí dụ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai mà đối với thửa đất đó cơ quan, tổ chức, cá nhân không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 có quyền lựa chọn TAND cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc UBND cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 để giải quyết tranh chấp. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền và cơ quan đó đang giải quyết tranh chấp thì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+/ Trường hợp thứ sáu, Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;

+/ Trường hợp thứ bảy, Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.

Đối với việc của bạn thì khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải trách nhiệm ra văn bản thông báo nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.

Tùy từng trường hợp cụ thể nêu trên, Thẩm phán trả lại hồ sơ khởi kiện mà kèm theo đó là yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Căn cứ vào khoản 1 Điều 193 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung chính theo quy định tại khoản 4 Điều 198 Bộ luật tố tụng dân sự thì thời hạn yêu cầu sửa đổi, bổ sung sẽ không quá 01 tháng; trường hợp đặc biệt, Thẩm phán có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày. Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không tính vào thời hiệu khởi kiện.

Nếu cần có sự hỗ trợ, tư vấn thêm bạn đọc có thể liên hệ theo địa chỉ phía dưới đây.

Luật gia: Lê Minh

Địa chỉ: Tòa nhà New Skyline Khu đô thị Văn Quán, phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Hotline: 0961.272.396

Email: Haiminhlawfirm@gmail.com

Loading...
Bạn đang đọc bài viết Các trường hợp Thẩm phán trả hồ sơ khởi kiện tại chuyên mục Văn bản chính sách – Hỏi đáp. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0913 385 005 - 0917 681 188 Hoặc email: bandientu.mtdt@gmail.com
Tin mới nhất